Con SAO LA (đầy đủ Sao La-Giá trị Ý nghĩa Sao La-Linh vật Sao La-đặc điểm đặc tính sao la-Sao la ăn gì-Sao la sống ở đâu trên thế giới-10 Hình ảnh Sao La-Sao la sống ở đâu tại Việt Nam-Sao La tiếng Anh là gì-Số lượng Sao La trên thế giới và Việt Nam-bảo tồn bảo vệ Sao la như thế nào)

Đầy đủ sao la

Sao la là linh dương lớn ở Nam Trung Bộ (danh pháp khoa học: Pseudoryx nghetinhensis) là một loài đơn bộ thuộc chi C, phân bố ở Lào và Việt Nam ở Đông Nam Á. Đỉnh đầu của nó có hai chiếc sừng nhọn dài đến nửa mét, trông giống như một con linh dương, khi nhìn từ bên cạnh, nó dường như chỉ có một sừng nên còn được gọi là “kỳ lân châu Á”.

Sao la thuộc giống gì

Sao La là loài động vật có hình dáng giống với linh dương.




BYTUONG-chuyên trang trên 95.000+ ý tưởng kiếm tiền, kinh doanh, ý tưởng tạo giá trị, lợi ích

—–hoặc—–

***

Sao la thuộc bộ gì

Gía trị ý nghĩa sao la

Tìm hiểu thêm

Con sao la được coi là biểu tượng cho tinh thần chiến thắng và đại diện cho quốc gia. Vào năm 2021, Việt Nam đã chọn sao la là linh vật của Sea Games 31.

Linh vật sao la

Báo cáo đầu tiên về Linh dương lớn Nam Trung bộ đến từ Tây Âu, và các tác giả đề cập rằng loài này được tìm thấy trong Khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang, Việt Nam, Nhiều thông tin về loài linh dương miền Trung và miền Nam đến từ việc nghiên cứu bộ xương của chúng và lời kể của người dân địa phương. Cư dân địa phương gọi nó với cái tên “Sao la” có nghĩa là “trục quay của bánh xe quay” vì cặp sừng dài và thẳng trên đầu của nó có phần giống với trục quay.

Tên chi “Pseudoryx” của linh dương miền Trung và miền Nam bắt nguồn từ loài linh dương kiếm, loài cũng có sừng dài và thẳng, và linh dương kiếm theo tiếng Hy Lạp là “Pseudes”, có nghĩa là “giả”. Tên loài “nghetinhensis” của linh dương miền Trung và miền Nam cho biết phạm vi phân bố chính của nó – Nghệ an và Hà Tĩnh, gần với Lào ở Việt Nam, cộng với nghĩa Latinh “thuộc” Hậu tố của “-ensis” tạo thành loài tên của Linh dương lớn Nam Trung bộ.

Sao La Sea games 31

Đặc điểm đặc tính sao la

Sao la là một loài động vật có vú lớn được phát hiện vào năm 1992. Vẻ ngoài độc đáo của nó đã gây chấn động trong cộng đồng khoa học và quan tâm đến nghiên cứu của nó. Cũng bởi vì sự độc đáo của nó, nó quá khác biệt so với những loài động vật được biết đến mà một chi đã dành riêng cho nó.

Người ta đã cố gắng phân loại nó vào các họ và chi có móng guốc, nhưng các đặc điểm của nó khiến chúng ta không thể mô tả nó bằng một chi đã biết, chẳng hạn như ba nhánh của phân họ Bò dựa trên các đặc điểm hình thái (Linh dương đầu bò, gia súc và quý tộc) , nó cũng đã được chia thành phân họ của dê (đặc biệt là các loài golins giống nhau nhất bao gồm cả sơn dương và goral Himalaya).

Trọng lượng của nó khoảng 100kg, chiều dài cơ thể khoảng 150cm và chiều cao vai từ 80-90cm. Không có sự khác biệt đáng kể giữa con đực và con cái (1995).

Màu của sao la là màu nâu sẫm, và màu riêng của nó thay đổi từ nâu đỏ đến gần đen. Lông ở phần trên cơ thể ngắn, mịn và bóng, còn lông ở đầu và cổ thì ngắn hơn. Có thể do thời tiết mát và ẩm ướt ở một số vùng phân bố nên lông trên cơ thể của sao la.

Sao la ăn gì

Theo báo cáo, loài linh dương miền Trung và miền Nam thường ăn lá của cây vả và cây bụi ven sông, và chúng cũng thích ăn loại thảo mộc. Những chiếc răng cửa tương đối ngắn của nó gợi ý rằng nó là một loài động vật ăn cỏ.

Linh dương miền Trung và miền Nam là loài rất kén ăn, sau khi quan sát con linh dương cái bị bắt vào năm 1998, người ta biết được rằng ban đầu chúng đưa thức ăn vào miệng thật nhanh, sau đó mới nhai, nhưng trước đó chúng nhai lá của loài linh dương vật. đầu tiên được tách ra từ thân và cuống lá.

Dù có chiếc lưỡi dài và linh hoạt nhưng chúng chỉ thỉnh thoảng dùng lưỡi để cuộn thức ăn vào miệng. Con linh dương bị bắt được cho ăn Millennium japonicus, thân rễ, dương xỉ và một loài thực vật lá rộng chưa xác định thuộc họ Sycamore, chúng cũng được cho là một phần trong chế độ ăn của linh dương miền Trung và miền Nam trong tự nhiên.

Qua quan sát tình hình uống nước của linh dương miền Trung và miền Nam, các nhà nghiên cứu nhận thấy chúng có thể tiêu thụ rất nhiều nước trong một lần, và thời gian uống gần 4 phút.

Sao la sống ở đâu trên thế giới

Sao La phân bố ở Lào và Việt Nam thuộc khu vực Đông Nam Á, sống trong rừng lá rộng thường xanh ở độ cao 200 ~ 1200m, tính chất ôn hòa, sống đơn độc, khi di cư thành đàn nhỏ 2 ~ 3 con, ăn lá cây và cây bụi.

10 Hình ảnh Sao La

Sao la sống ở đâu tại Việt Nam

Vùng đất miền Trung và miền Nam sống trong các khu rừng của dãy núi An Nam, nơi hầu như có lượng mưa hàng tháng và không có mùa khô rõ ràng. Hầu hết các sinh cảnh đã được ghi nhận là rừng lá rộng thường xanh ẩm ở độ cao trung bình, chủ yếu là rừng dốc với các loại lá có lông thuộc họ Dipterocarpaceae. Diện tích rừng đang hoạt động là hơn 25 km vuông. Mặc dù có những đỉnh núi cao trên 2200m và những khu vực độ cao với thông và bách, không có bằng chứng nào cho thấy eland miền Trung và miền Nam sẽ di chuyển trong những khu vực trên 1200m.

Môi trường sống của sao la

Vào các mùa khác nhau, miền Trung và miền Nam sẽ hoạt động ở các mức độ rừng khác nhau, và đôi khi ở các khu rừng thứ sinh ở vùng đất thấp ven sông lớn ở độ cao 200m. Những người phát hiện ra nó tin rằng sự di cư theo mùa của nó phụ thuộc vào sự thay đổi của độ ẩm, di chuyển lên độ cao hơn với không khí ẩm dồi dào vào mùa hè và xuống độ cao thấp hơn vào mùa đông khi không khí khô.

Mặc dù vậy, hầu hết những nơi mà người dân địa phương đã quan sát ở miền Trung và miền Nam là ở các khu vực đồi dốc, thường là trong các khu rừng lá rộng thường xanh với tán rậm rạp ở phía trên và cây si, tre, nứa ở dưới. Miền trung và miền nam eland được cho là nhút nhát và không bao giờ sử dụng đất nông nghiệp.

Sao La tiếng Anh là gì

Sao La tiếng Anh là Pseudoryx nghetinhensis.

Số lượng Sao La trên thế giới và Việt Nam

Vùng đất miền Trung và miền Nam được tìm thấy trong các khu rừng thuộc dãy núi An Nam dọc theo biên giới Việt Lào. Các quan sát khoa học nhất được ghi nhận ở phần Nam sông Hồng của Việt Nam, mặc dù các quần thể nhỏ đã được tìm thấy ở phần phía Bắc sông Hồng trước đây.

Ở Lào, linh dương miền Trung và Nam phân bố ở Bolikhamxay, Khammon, Savannakhet, Xekong, và có thể cả phần phía nam của tỉnh Xiêng Khoảng.

Ở Việt Nam phân bố ở Ý An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Trấn Thiên Huế, Quảng Nam.

Tổng diện tích khu vực phân bố của miền trung và miền nam là khoảng 4.000 km vuông, và phạm vi phân bố lịch sử có thể lên đến 15.000 km vuông.

Vào năm 1995, người ta ước tính có khoảng vài trăm con linh dương Trung và Nam sống trên biên giới giữa Lào và Việt Nam, nhưng số lượng chính xác không được biết vì chúng ở những nơi xa xôi và hiểm trở. Tính đến năm 2009, nhóm công tác của IUCN ước tính chỉ còn lại một hoặc hai trăm con linh dương Trung và Nam, thậm chí có thể là vài chục con. Dữ liệu hiện có cho thấy dân số ở miền Trung và miền Nam đang suy giảm đáng kể, với tỷ lệ suy giảm hơn 80% trong vòng ba thế hệ, vượt quá tiêu chuẩn giá trị quan trọng đối với nguy cơ tuyệt chủng.

Bảo tồn bảo vệ Sao la như thế nào

Săn bắt là mối đe dọa lớn nhất đối với sự tồn tại của dân số miền Trung và miền Nam. Áp lực từ việc săn bắn của con người có thể được ví như “núi lớn”, bao gồm cả săn bắt bằng chó săn và bẫy bắt. Mọi người lo lắng rằng loài linh dương Trung và Nam Trung Quốc cuối cùng sẽ rơi vào tình trạng tuyệt chủng tuyệt vọng.

Dân làng không chỉ săn bắt linh dương miền Trung và miền Nam, mà còn dùng tuyến trên mặt chúng làm thuốc chữa bệnh. Ngoài ra, việc mất môi trường sống của vùng đất miền Trung và miền Nam cũng là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với sự tồn tại của các quần thể của chúng.

Những con đường dành cho xe tải chở gỗ không chỉ làm tăng tốc độ tàn phá rừng và tiếp tục chia cắt môi trường sống ở miền Trung và miền Nam, mà còn làm tăng cơ hội cho miền Trung và miền Nam đối mặt với những kẻ săn bắt và làm tăng thêm nguy cơ chết chóc.

Tính đến năm 1998, không có con nào trong số 13 con linh dương miền Trung và miền Nam bị bắt và nuôi nhốt sống sót quá 5 tháng. Tính đến năm 2008, ít nhất 20 con đang bị giam cầm, nhưng số phận của chúng vẫn giống như trước, ngoại trừ hai con được thả vào tự nhiên và sống sót. Vì lý do này, Bộ Lâm nghiệp Việt Nam đã đề xuất lệnh cấm săn bắt, buôn bán và gây giống loài saola, linh dương, cũng như bãi bỏ việc bồi thường tài chính cho những người sở hữu nó.

Ngoài ra, WWF đã thiết lập một dự án đặc biệt để tuyển dụng các kiểm lâm viên địa phương để tiến hành kiểm tra. Từ năm 2011 đến năm 2013, lực lượng kiểm lâm đã loại bỏ hơn 30.000 bẫy được thiết kế đặc biệt để săn linh dương miền Trung và miền Nam, và phá hủy hơn 600 ổ săn bắn trái phép.

Tuy nhiên, việc quản lý các khu bảo tồn phần lớn đã không thể kiểm soát hiệu quả nạn săn trộm, điều này gây ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của khu vực, vì các dự án thủy điện, xây dựng đường, khai thác mỏ và sự gia tăng dân số đã lấn chiếm các khu bảo tồn.

Mặc dù nhu cầu buôn bán đối với loài này không cao nhưng nhu cầu của chúng có xu hướng tăng lên cùng với sự suy giảm của loài. Nói một cách dễ hiểu, sự gia tăng áp lực sinh tồn của quần thể khiến loài linh dương Trung và Nam Trung Quốc đứng trước nguy cơ tuyệt chủng trong tương lai gần.

Sao la được tìm thấy ở Vườn quốc gia nào

Lần đầu tiên được phát hiện trên dãy núi An Nam của Việt Nam vào năm 1992, khám phá của nó được coi là một trong những khám phá về loài động vật đáng kinh ngạc nhất của thế kỷ 20 vào thời điểm đó. Tuy nhiên, quần thể của nó rất hiếm và đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng, và nó được Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế liệt vào danh sách các loài cực kỳ nguy cấp.

Có một tài liệu quan sát (1998) cho thấy vùng đất Nam Trung Bộ đã được dân làng thuần hóa trong vùng phân bố của nó. Trong môi trường sống của chúng, những kẻ săn mồi của linh dương miền Trung và miền Nam có thể là báo hoa mai và hổ, linh dương miền Trung và miền Nam đối mặt với chúng với tư thế phòng thủ tương tự như động vật móng guốc địa phương chống lại chó hoang.

Hình ảnh con sao la

Bảo tồn Sao la

Số lượng các nhóm dân tộc còn nhiều nghi vấn, và chỉ có 11 nhóm được ghi nhận trên thế giới, vì vậy nó được liệt kê là loài cực kỳ nguy cấp trong Sách đỏ của IUCN.

Sao la tuyệt chủng

Sao la được xếp hạng ở mức Cực kỳ Nguy cấp trong Sách đỏ của IUCN, và là bước cuối cùng trước mức tuyệt chủng.

Tại sao sao la có nguy cơ tuyệt chủng

Các chuyên gia cho rằng sao la đang bị săn bắt và dính bẫy quá nhiều nên loài này tính ra chỉ còn vài chục con. Đây chính là dấu hiệu cho thấy nguy cơ tuyệt chủng của loài.